trung tâm kế toán hà nội


Xử lý Chứng từ thanh toán hàng nhập khẩu cho bên thứ 3 là cá nhân

Chứng từ thanh toán hàng nhập khẩu cho bên thứ 3 là cá nhân

Điều 15 khoản 4 mục c Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định về việc thanh toán cho bên thứ 3 như sau:
 
“c) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.”
 
Theo công văn số  833/TCT-KK ngày 3/3/2016 của Tổng cục thuế về việc thanh toán cho bên thứ 3 là cá nhân như sau:
 
“Trường hợp Công ty TNHH Việt Nam Mỹ Thanh thực hiện thanh toán hợp đồng nhập khẩu với người bán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba theo chỉ định của người bán được quy định trong hợp đồng là một cá nhân người nước ngoài, mở tài khoản tại nước ngoài, không có mặt tại Việt Nam thì chứng từ thanh toán qua ngân hàng nêu trên không đủ điều kiện để khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào theo quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng.”
 
Theo những quy định trên, thanh toán qua ngân hàng cho  bên thứ 3, chỉ được chấp nhập khấu trừ thuế khi:
 
Thanh toán cho bên thứ 3 phải được quy định rõ trong hợp đồng
Bên thứ 3 phải là một pháp nhân hay thể nhân
Bên thứ 3 không phải là một cá nhân
 
Quy định chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Theo điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:
 
“1. Có hoá đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
 
2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hoá nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.”
 
Khoản 6b, Điều 3 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính về chứng từ thanh toán qua ngân hàng như sau:
 
b) Sửa đổi, bổ sung khổ đầu khoản 3 Điều 15 như sau:
 
“3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế. Bên mua không cần phải đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế tài khoản tiền vay tại các tổ chức tín dụng dùng để thanh toán cho nhà cung cấp) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế).”
 
Theo những quy định trên, thì:
 
Những hóa đơn trên 20 triệu đồng, phải thanh toán không dùng tiền mặt
Chứng từ thanh toán qua ngân hàng, được coi là chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt

 



Hãy like để nhận nhiều bài mới nhất

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn